Mức độ hở van (nhiều hay ít) và tính chất hở van (cấp tính hay mạn tính) quyết định tình trạng lâm sàng cũng như tiên lượng đối với người bệnh. Nguyên nhân thường gặp của hở van hai lá là thấp tim và các bệnh tim do thấp, nhồi máu cơ tim gây đứt dây chằng, cột cơ, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, chấn thương làm rách hoặc đứt dây chằng, lá van, sa van hai lá hoặc do buồng tim trái giãn gây giãn vòng van hai lá (trong bệnh cơ tim giãn, trong tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ…). Chẩn đoán chủ yếu dựa vào tiếng thổi toàn tâm thu, cường độ mạnh, nghe rõ nhất ở mỏm tim lan ra phía nách hoặc lan dọc bờ trái xương ức lên phía đáy tim, không thay đổi theo tư thế và hô hấp. Siêu âm - Doppler tim cho phép chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ hở van hai lá (nhẹ, vừa, nặng) thông qua hình ảnh dòng màu phụt ngược về phía nhĩ trái trong thì tâm thu. Siêu âm tim còn giúp đánh giá cơ chế hở van, những tổn thương phối hợp và ảnh hưởng của hở van hai lá đối với kích thước và chức năng thất trái, mức độ giãn của tâm nhĩ cũng như mức độ tăng áp lực động mạch phổi để từ đó lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cho người bệnh. Nếu hở van hai lá cấp tính thì bên cạnh các phương pháp điều trị nội khoa (giảm tiền gánh bằng nitroglycerin, natri nitroprusside hoặc hydralazin truyền tĩnh mạch, giảm hậu gánh bằng thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin II) người bệnh nên được được xem xét chỉ định điều trị phẫu thuật sớm. Với những bệnh nhân hở van hai lá mạn tính từ mức độ vừa trở lên nếu có triệu chứng thì nên chỉ định phẫu thuật (sửa van hoặc thay van nhân tạo). Nếu hở hai lá nhiều mà có ít triệu chứng hoặc không có triệu chứng lâm sàng thì chỉ định phẫu thuật được căn cứ vào đường kính cuối tâm trương thất trái trên siêu âm tim. Nếu đường kính cuối tâm trương thất trái tăng mà phân số tống máu EF ≥ 60% thì không nên trì hoãn điều trị phẫu thuật sớm. Nếu phân số tống máu từ 55 – 60% thì nên chỉ định phẫu thuật ngay cho dù buồng tim có thể chưa giãn hoặc giãn chưa nhiều.
TS. Tạ Mạnh Cường